

Người thực hiện cam kết thu nhập là cá nhân trực tiếp phát sinh thu nhập và đáp ứng các điều kiện theo quy định. Sau khi hoàn thành, cá nhân gửi bản cam kết cho doanh nghiệp hoặc tổ chức, cá nhân đang chi trả thu nhập cho mình.
Việc lập cam kết được thực hiện căn cứ vào quy định tại điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC về khấu trừ thuế TNCN.
Theo đó, trường hợp cá nhân chỉ phát sinh thu nhập thuộc diện khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10%, nhưng dự kiến tổng thu nhập chịu thuế sau khi tính các khoản giảm trừ chưa đạt mức phải nộp thuế thì có thể lập cam kết theo mẫu quy định và gửi cho đơn vị trả thu nhập. Đây là cơ sở để đơn vị chi trả tạm thời chưa khấu trừ thuế TNCN.
Căn cứ vào bản cam kết hợp lệ của người nhận thu nhập, doanh nghiệp thực hiện việc chi trả mà không khấu trừ thuế. Tuy nhiên, khi kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp thông tin về những cá nhân có thu nhập chưa đến mức khấu trừ và thực hiện báo cáo với cơ quan thuế theo quy định.
Người lập cam kết phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực và chính xác của nội dung đã kê khai. Nếu cơ quan thuế phát hiện hành vi gian lận, cá nhân có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Không phải mọi người lao động đều có thể sử dụng mẫu 08/CK-TNCN. Cá nhân cần đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:
Trường hợp cá nhân có các khoản thu nhập chịu khấu trừ 10% tại nhiều đơn vị khác nhau thì vẫn có thể lập cam kết nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện cần thiết.
Như vậy, người lao động phải tự kiểm tra toàn bộ điều kiện trước khi ký mẫu 08/CK-TNCN. Nếu cố tình kê khai sai hoặc gian lận để không bị khấu trừ thuế, cá nhân có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định, trong đó có các trường hợp được đề cập tại điểm b khoản 1 Điều 7 hoặc khoản 2 Điều 14 Nghị định 125/2020/NĐ-CP.
Mẫu 08/CK-TNCN được sử dụng để cá nhân cam kết về mức thu nhập dự kiến trong năm và đề nghị đơn vị trả thu nhập không thực hiện khấu trừ thuế TNCN nếu đủ điều kiện.
Mẫu được ban hành kèm theo Thông tư 80/2021/TT-BTC ngày 29/09/2021 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
(Áp dụng đối với cá nhân nhận thu nhập và dự kiến tổng thu nhập trong năm dương lịch chưa đến mức chịu thuế TNCN)
Kính gửi: Ghi tên tổ chức, cá nhân trả thu nhập.
Người lập cam kết ghi đầy đủ họ và tên của mình theo giấy tờ tùy thân.
Ghi thông tin mã số thuế của cá nhân theo quy định hiện hành.
Từ ngày 01/07/2025, việc sử dụng thông tin định danh cá nhân thay cho mã số thuế được áp dụng theo quy định mới. Vì vậy, khi lập cam kết cần sử dụng thông tin định danh cá nhân theo hướng dẫn đang có hiệu lực tại thời điểm kê khai.
Cá nhân ghi địa chỉ cư trú của mình. Đây là nơi cá nhân thường xuyên sinh sống theo quy định.
Ví dụ, một người có quê quán tại tỉnh nhưng hiện đang sinh sống và làm việc tại thành phố thì cần xác định địa chỉ cư trú theo tình trạng cư trú thực tế và quy định pháp luật hiện hành, không nên nhầm lẫn giữa địa chỉ cư trú với quê quán.
Tại phần này, cá nhân ghi năm phát sinh thu nhập và số tiền tổng thu nhập dự kiến trong năm.
Nội dung cam kết thể hiện rằng trong năm đó, cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công thuộc diện khấu trừ 10%, tuy nhiên tổng thu nhập dự kiến trong cả năm chưa vượt quá mức sau khi tính các khoản giảm trừ và do đó chưa đến mức phải nộp thuế TNCN.
Theo số liệu được sử dụng trong ví dụ này, từ năm 2026 mức giảm trừ gia cảnh gồm:
Số tiền ghi trên cam kết được xác định dựa trên số tháng thực tế được tính giảm trừ trong năm.
Nếu cá nhân không đăng ký giảm trừ người phụ thuộc thì mức giảm trừ cho bản thân trong 12 tháng là:
15.500.000 × 12 = 186.000.000 đồng
Khi đó, nội dung cam kết có thể ghi:
“Theo ước tính tổng thu nhập trong năm của tôi không quá 186.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm tám mươi sáu triệu đồng).”
Nếu cá nhân có một người phụ thuộc và thực tế được tính giảm trừ trong 10 tháng thì:
186.000.000 + 6.200.000 × 10 = 248.000.000 đồng
Nội dung ghi trên cam kết:
“Theo ước tính tổng thu nhập trong năm của tôi không quá 248.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm bốn mươi tám triệu đồng).”
Nếu có hai người phụ thuộc và mỗi người đều được tính giảm trừ trong 12 tháng thì:
186.000.000 + 6.200.000 × 2 × 12 = 334.800.000 đồng
Khi đó ghi:
“Theo ước tính tổng thu nhập trong năm của tôi không quá 334.800.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm ba mươi bốn triệu tám trăm nghìn đồng).”
Sau phần kê khai thu nhập, cá nhân xác nhận rằng mức thu nhập dự kiến chưa đến ngưỡng phải nộp thuế TNCN và đề nghị tổ chức, cá nhân trả thu nhập căn cứ vào bản cam kết để không khấu trừ thuế khi thanh toán thu nhập.
Cuối cùng, người làm cam kết ghi ngày, tháng, năm và ký, ghi rõ họ tên, đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ thông tin đã kê khai.
Để dễ hình dung, có thể xem xét trường hợp của anh Thành.
Ngày 01/03/2026, anh Thành ký hợp đồng thử việc với Công ty Kế Toán Thiên Ưng. Thời gian thử việc là 1 tháng, từ 01/03/2026 đến hết ngày 31/03/2026.
Mức lương thử việc được thỏa thuận là 6.000.000 đồng/tháng và công ty thanh toán tiền lương khi kết thúc thời gian thử việc, tức ngày 31/03/2026.
Đến ngày 31/03/2026, do anh Thành đi làm đầy đủ nên công ty xác định tiền lương thử việc phải trả là 6.000.000 đồng.
Khoản thu nhập này vượt mức 2.000.000 đồng nên nếu không thuộc trường hợp được miễn khấu trừ thì đơn vị trả thu nhập sẽ thực hiện khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10%.
Cụ thể:
6.000.000 × 10% = 600.000 đồng
Như vậy, nếu anh Thành không lập cam kết và không thuộc trường hợp khác được miễn khấu trừ, Công ty Kế Toán Thiên Ưng sẽ khấu trừ 600.000 đồng tiền thuế TNCN. Số tiền anh Thành thực nhận là:
6.000.000 - 600.000 = 5.400.000 đồng.
Ngược lại, nếu anh Thành đủ điều kiện làm cam kết 08/CK-TNCN, lập cam kết và gửi cho Công ty Kế Toán Thiên Ưng thì công ty có thể căn cứ vào cam kết để tạm thời không khấu trừ 10% thuế TNCN. Khi đó, anh Thành được nhận đủ 6.000.000 đồng tiền lương thử việc.
Trước khi lập cam kết, anh Thành cần tự kiểm tra các điều kiện.
Thứ nhất, anh Thành là cá nhân cư trú và đang làm việc theo hợp đồng thử việc.
Thứ hai, anh Thành đã đăng ký thuế và có thông tin mã số thuế theo quy định.
Thứ ba, anh Thành dự kiến tổng thu nhập trong năm 2026 chưa đến mức phải nộp thuế TNCN. Theo giả định trong tình huống, thu nhập bình quân của anh Thành khoảng 15 triệu đồng/tháng, tương đương:
15.000.000 × 12 = 180.000.000 đồng/năm.
Mức này thấp hơn mức giảm trừ cho bản thân cả năm theo số liệu giả định là:
15.500.000 × 12 = 186.000.000 đồng/năm.
Do đó, theo tình huống giả định, thu nhập sau khi tính giảm trừ chưa đến mức phải nộp thuế.
Thứ tư, tại thời điểm ngày 31/03/2026, anh Thành chỉ có khoản thu nhập thuộc diện khấu trừ 10% và không có thu nhập từ hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên theo thông tin của tình huống.
Từ những dữ kiện trên có thể xác định rằng, theo giả định của tình huống, anh Thành đáp ứng các điều kiện để lập cam kết thu nhập. Anh Thành tiến hành điền mẫu 08/CK-TNCN, ký xác nhận và gửi cho Công ty Kế Toán Thiên Ưng để làm căn cứ xử lý khoản thuế TNCN đối với tiền lương thử việc.
Qua những nội dung trên, có thể thấy Cách làm cam kết thu nhập 08/CK-TNCN không bị khấu trừ thuế cần được thực hiện đúng điều kiện, đúng đối tượng và kê khai chính xác thông tin về thu nhập dự kiến trong năm. Người lao động nên chủ động kiểm tra tình trạng thu nhập, mã số thuế và các khoản giảm trừ trước khi lập cam kết để hạn chế sai sót khi quyết toán thuế TNCN. Đối với doanh nghiệp, việc nắm rõ quy định về khấu trừ và lưu trữ hồ sơ thuế cũng giúp quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế thuận lợi hơn. Nếu muốn nâng cao kiến thức thực tế, bạn có thể tham khảo khóa học kế toán thực hành để được hướng dẫn nghiệp vụ cụ thể. Bên cạnh đó, dịch vụ rà soát sổ sách kế toán của Kế Toán Minh Việt có thể hỗ trợ doanh nghiệp kiểm tra, đối chiếu và phát hiện những sai sót trong hồ sơ kế toán. Ngoài thuế TNCN, doanh nghiệp cũng nên cập nhật quy định liên quan đến BHXH đối với người lao động làm việc 2 nơi hoặc nhiều nơi năm 2026 để thực hiện đúng nghĩa vụ bảo hiểm.Bài Viết Mới Nhất
Bài Viết Xem Nhiều