
Là vấn đề được nhiều người lao động và doanh nghiệp quan tâm khi một cá nhân đồng thời ký hợp đồng lao động với nhiều công ty. Theo quy định, người lao động giao kết nhiều hợp đồng lao động thì BHXH bắt buộc được tham gia theo hợp đồng lao động giao kết đầu tiên. Trường hợp hợp đồng đang làm căn cứ đóng BHXH bị tạm hoãn mà hai bên không thỏa thuận về việc tiếp tục đóng thì xác định theo thứ tự thời gian có hiệu lực của các hợp đồng.

Đối với BHYT, người lao động có nhiều hợp đồng lao động sẽ đóng theo hợp đồng làm căn cứ tham gia BHXH bắt buộc. BHTN cũng được thực hiện cùng với việc tham gia BHXH bắt buộc trong trường hợp người lao động đồng thời thuộc nhiều đối tượng tham gia. Riêng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, nếu người lao động thuộc diện bắt buộc thì từng người sử dụng lao động phải đóng theo từng hợp đồng lao động đã giao kết. Như vậy, khi làm việc tại nhiều nơi, người lao động cần xác định rõ từng loại bảo hiểm để thực hiện đúng nghĩa vụ đóng bảo hiểm và đảm bảo quyền lợi bảo hiểm.
Khi người lao động đồng thời làm việc từ 2 nơi trở lên, việc tham gia các loại bảo hiểm bắt buộc được xác định theo từng loại bảo hiểm cụ thể như sau:
Người lao động ký HĐLĐ từ đủ 1 tháng trở lên, bao gồm hợp đồng không xác định thời hạn, hợp đồng xác định thời hạn từ đủ 1 tháng và trường hợp làm việc không trọn thời gian nhưng có mức tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thấp nhất, nếu ký hợp đồng với nhiều người sử dụng lao động thì tham gia BHXH bắt buộc theo hợp đồng lao động được ký kết đầu tiên.
Nếu hợp đồng đang được sử dụng làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc bị tạm hoãn và hai bên không có thỏa thuận về việc tiếp tục đóng bảo hiểm trong thời gian này thì việc tham gia được xác định theo thứ tự thời gian có hiệu lực của các hợp đồng lao động.
Một số trường hợp không thuộc diện bắt buộc tham gia BHXH gồm: người ký HĐLĐ có thời hạn dưới 1 tháng, người ký hợp đồng không phải HĐLĐ như hợp đồng thử việc, hợp đồng khoán việc; người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hoặc trợ cấp hằng tháng; lao động là người giúp việc gia đình và các trường hợp khác theo quy định.
Người lao động ký HĐLĐ không xác định thời hạn hoặc HĐLĐ xác định thời hạn từ đủ 1 tháng trở lên, bao gồm cả trường hợp làm việc không trọn thời gian đáp ứng điều kiện về tiền lương, nếu đồng thời có một hoặc nhiều HĐLĐ thì đóng BHYT theo hợp đồng lao động làm căn cứ tham gia BHXH bắt buộc.
Theo quy định về BHTN, nếu người lao động đồng thời thuộc nhiều đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp thì người lao động và người sử dụng lao động có trách nhiệm tham gia BHTN cùng với việc tham gia BHXH bắt buộc. Quy định này được áp dụng từ ngày 01/01/2026 theo Luật Việc làm số 74/2025/QH15.
Theo Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/07/2025, trường hợp một cá nhân đồng thời thuộc nhiều nhóm đối tượng tham gia BHXH bắt buộc thì việc tham gia được xác định theo từng trường hợp cụ thể.
Đối với người lao động ký nhiều hợp đồng lao động với các đơn vị sử dụng lao động khác nhau, việc tham gia BHXH bắt buộc được thực hiện tại hợp đồng lao động được ký kết đầu tiên. Nếu hợp đồng này đang tạm hoãn thực hiện và các bên không có thỏa thuận tiếp tục đóng BHXH thì người lao động sẽ tham gia BHXH theo hợp đồng có hiệu lực tiếp theo theo thứ tự thời gian ký kết.
Đối với cán bộ, công chức, viên chức hoặc người quản lý doanh nghiệp có hưởng lương đồng thời thuộc nhóm người lao động theo hợp đồng lao động thì việc tham gia BHXH được xác định theo nhóm đối tượng đặc thù này thay vì theo hợp đồng lao động thông thường.
Trường hợp người quản lý doanh nghiệp hoặc hợp tác xã làm việc tại nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc liên hiệp hợp tác xã thì sẽ tham gia BHXH tại đơn vị đầu tiên mà họ thực hiện hoạt động quản lý, điều hành.
Đối với người vừa thuộc diện lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng hoặc người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố, vừa thuộc các nhóm đối tượng khác thì việc tham gia BHXH được xác định theo đối tượng phát sinh trước.
Ngoài ra, chủ hộ kinh doanh, người quản lý doanh nghiệp không hưởng lương, dân quân thường trực và một số đối tượng đặc thù khác cũng được áp dụng nguyên tắc xác định đối tượng tham gia BHXH theo quy định riêng của Luật BHXH 2024 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Theo khoản 1 Điều 2 Luật BHXH số 41/2024/QH15, các nhóm đối tượng tham gia BHXH bắt buộc bao gồm: người lao động làm việc theo hợp đồng lao động từ đủ 01 tháng trở lên, cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, người quản lý doanh nghiệp có hưởng lương, người làm việc không trọn thời gian đủ điều kiện, chủ hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh, người quản lý doanh nghiệp không hưởng lương và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật.
Theo khoản 11 Điều 1 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi số 51/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/07/2025, trường hợp một người đồng thời thuộc nhiều đối tượng tham gia BHYT thì việc xác định nơi và thứ tự tham gia được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
Như vậy, khi người lao động làm việc tại nhiều nơi hoặc đồng thời thuộc nhiều nhóm BHYT, không phải tất cả các đơn vị đều cùng đóng BHYT. Việc đóng BHYT được xác định dựa trên thứ tự đối tượng tham gia và nguồn đóng theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế, các đối tượng tham gia BHYT được phân thành nhiều nhóm dựa trên nguồn đóng bảo hiểm. Việc phân nhóm này là cơ sở để xác định thứ tự tham gia BHYT trong trường hợp một người đồng thời thuộc nhiều đối tượng khác nhau.
Nhóm này gồm người lao động làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn hoặc HĐLĐ xác định thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, kể cả trường hợp hợp đồng có tên gọi khác nhưng có bản chất là quan hệ lao động. Ngoài ra còn có người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, thành viên HĐQT, Tổng giám đốc, Giám đốc và các chức danh quản lý khác có hưởng lương.
Nhóm này cũng bao gồm người quản lý doanh nghiệp không hưởng lương, lao động là người nước ngoài thuộc trường hợp luật quy định, lao động làm việc không trọn thời gian đáp ứng điều kiện về tiền lương, chủ hộ kinh doanh thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, cán bộ, công chức, viên chức, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và một số đối tượng khác.
Nhóm này gồm người đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng; người đang hưởng một số chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, ốm đau, thai sản theo quy định; cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp BHXH hằng tháng và người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Đây là nhóm gồm nhiều đối tượng như sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đang tại ngũ, một số đối tượng trong lực lượng công an và cơ yếu; hạ sĩ quan, binh sĩ đang tại ngũ, học viên quân đội, công an, cơ yếu thuộc trường hợp luật quy định; dân quân thường trực, người có công với cách mạng, cựu chiến binh, đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND, trẻ em dưới 6 tuổi và thân nhân của một số đối tượng.
Ngoài ra, nhóm này còn bao gồm người thuộc hộ nghèo, một số người dân tộc thiểu số, người sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, người sinh sống tại xã đảo, huyện đảo; người đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng, một số người cao tuổi đang hưởng trợ cấp và các đối tượng khác theo quy định.
Như vậy, Điều 12 Luật BHYT đã phân chia người tham gia thành các nhóm theo chủ thể đóng BHYT, qua đó làm căn cứ xác định đối tượng và thứ tự tham gia BHYT khi một người đồng thời thuộc nhiều nhóm khác nhau.
Nhóm này bao gồm các đối tượng sau:
a) Người thuộc hộ gia đình cận nghèo;
b) Học sinh, sinh viên;
c) Người tham gia lực lượng bảo vệ an ninh, trật tự tại cơ sở;
d) Người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình theo quy định pháp luật;
đ) Nhân viên y tế thôn, bản và cô đỡ thôn, bản;
e) Người hoạt động không chuyên trách tại thôn, tổ dân phố theo quy định;
g) Người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại các xã được xác định đã ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn. Các đối tượng này được Nhà nước hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế theo quy định của Chính phủ;
h) Người được trao tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú theo quy định của Luật Di sản văn hóa;
i) Nạn nhân thuộc đối tượng được quy định trong Luật Phòng, chống mua bán người.
Những người thuộc nhóm tự tham gia và tự đóng bảo hiểm y tế gồm:
a) Người tham gia bảo hiểm y tế theo hình thức hộ gia đình;
b) Người đang sinh sống, làm việc hoặc được nuôi dưỡng, chăm sóc tại các tổ chức, cơ sở từ thiện, cơ sở tôn giáo;
c) Người lao động trong thời gian nghỉ việc không hưởng lương hoặc đang tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động;
d) Các trường hợp khác không thuộc các đối tượng quy định tại điểm a, b và c của khoản này.
Ngoài các nhóm được quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này, những đối tượng khác cũng có thể tham gia bảo hiểm y tế theo quy định của luật hoặc pháp lệnh.
Chính phủ quy định thêm các nhóm đối tượng tham gia bảo hiểm y tế ngoài những trường hợp đã nêu tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6, bao gồm:
a) Những đối tượng đã được pháp luật quy định tham gia bảo hiểm y tế trước ngày 01/01/2025;
b) Các nhóm đối tượng khác ngoài trường hợp tại điểm a, sau khi Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đối tượng phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc:
Theo Điều 31 Luật Việc làm 2025, người lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm thất nghiệp gồm:
a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng xác định thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên. Quy định này cũng áp dụng khi hai bên sử dụng tên gọi khác cho hợp đồng nhưng thực tế có nội dung về công việc có trả lương, tiền công và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên;
b) Người lao động làm việc không trọn thời gian theo quy định tại điểm a, nếu tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn mức tiền lương thấp nhất làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội;
c) Người làm việc theo hợp đồng làm việc;
d) Người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp theo quy định pháp luật; thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Ban kiểm soát, kiểm soát viên và các chức danh quản lý khác do bầu tại hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã nếu có hưởng tiền lương.
Trường hợp một người lao động đồng thời thuộc nhiều nhóm đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp thì cả người lao động và người sử dụng lao động vẫn phải thực hiện đóng bảo hiểm thất nghiệp cùng với bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Những trường hợp không thuộc diện tham gia BHTN:
Người lao động thuộc khoản 1 Điều 31 nhưng đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc trợ cấp hằng tháng theo quy định của Chính phủ; người đã đủ điều kiện hưởng lương hưu; người đang làm việc theo hợp đồng thử việc; người giúp việc gia đình thì không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Đối tượng sử dụng lao động phải tham gia BHTN:
Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập; các cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, tổ chức cơ yếu; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức xã hội khác.
Ngoài ra, nhóm này còn bao gồm cơ quan, tổ chức nước ngoài và tổ chức quốc tế hoạt động tại Việt Nam; doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, hộ kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác có thuê, sử dụng lao động thuộc diện tham gia BHTN.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thẩm quyền quyết định việc mở rộng đối tượng tham gia BHTN đối với những người có việc làm, thu nhập ổn định và thường xuyên nhưng chưa thuộc khoản 1 Điều 31, trên cơ sở đề xuất của Chính phủ và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ.
Theo khoản 1 Điều 31 Luật Việc làm số 74/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, nếu người lao động cùng lúc thuộc nhiều nhóm đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp thì người lao động và người sử dụng lao động có trách nhiệm tham gia BHTN theo quy định, đồng thời thực hiện việc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Căn cứ Điều 43 Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2025, đối tượng tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được quy định như sau:
1. Đối tượng tham gia
Người lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo các điểm a, b, c, d, đ, e, i và l khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội, cùng với người sử dụng lao động thuộc khoản 3 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội, là đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
2. Người lao động làm việc tại nhiều nơi
Trường hợp người lao động đồng thời ký hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động thì nếu thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, mỗi người sử dụng lao động đều phải đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo từng hợp đồng lao động.
Khi người lao động không may xảy ra tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp, việc giải quyết chế độ bảo hiểm sẽ được thực hiện theo nguyên tắc đóng và hưởng do Chính phủ quy định.
Ví dụ: Chị Mai cùng lúc làm việc tại 2 doanh nghiệp:
Cả hai hợp đồng đều có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên và thuộc trường hợp phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Vì vậy, cả Công ty Thiên Ưng và Công ty Bảo An đều phải đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho chị Mai theo từng hợp đồng lao động.
Theo điểm a khoản 2 Điều 43 Nghị định 158/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/07/2025, mức đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được thực hiện như sau:
Mức đóng thông thường: Người sử dụng lao động hằng tháng đóng 0,5% trên tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người lao động thuộc diện tham gia.
Mức 0,5% này cũng được áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức và người thuộc lực lượng vũ trang làm việc tại các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, quân đội, công an và đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng ngân sách nhà nước.
Mức đóng 0,3%: Được áp dụng đối với doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 5 Nghị định 58/2020/NĐ-CP.
Như vậy, đối với người lao động làm việc đồng thời tại nhiều nơi, nếu các hợp đồng lao động đều thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì từng người sử dụng lao động phải thực hiện đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo từng hợp đồng.
Nhìn chung, BHXH đối với người lao động làm việc 2 nơi hoặc nhiều nơi năm 2026 cần được xác định dựa trên từng hợp đồng lao động và nhóm đối tượng tham gia bảo hiểm theo quy định hiện hành. Người lao động có thể phải tham gia BHXH, BHTN, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp tại từng đơn vị nếu đáp ứng điều kiện theo luật. Doanh nghiệp cũng cần xác định chính xác tiền lương làm căn cứ đóng và trách nhiệm đóng bảo hiểm để hạn chế sai sót, truy thu hoặc phát sinh vi phạm. Để nâng cao kiến thức và kỹ năng xử lý các nghiệp vụ thực tế, người làm kế toán có thể tham khảo học kế toán thực hành để được hướng dẫn trực tiếp trên hồ sơ, chứng từ. Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể sử dụng dịch vụ rà soát sổ sách kế toán của Kế Toán Minh Việt nhằm kiểm tra, đối chiếu và kịp thời phát hiện những sai sót trong quá trình thực hiện nghiệp vụ kế toán, bảo hiểm.
Bài Viết Mới Nhất
Bài Viết Xem Nhiều