Kế toán quản trị giống và khác kế toán tài chính ở điểm nào


Kế toán tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính thông qua báo cáo tài chính. Thông tin này phục vụ cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của đơn vị kế toán, bao gồm cổ đông, nhà đầu tư, chủ nợ, các cơ quan nhà nước, và khách hàng.
Kế toán quản trị giống và khác kế toán tài chính ở điểm nào

Trong khi đó, kế toán quản trị tập trung vào việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu của quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán. Thông tin này giúp nhà quản lý trong tổ chức đưa ra các quyết định hiệu quả về hoạt động kinh doanh và tài chính.

Cả hai loại kế toán này đều đóng vai trò quan trọng và bổ sung cho nhau trong việc quản lý và điều hành một tổ chức.
Kế toán quản trị giống và khác kế toán tài chính ở điểm nào chúng ta cùng tìm hiểu dưới đây nhé

Điểm khác biệt giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính

  1. Mục đích: Kế toán quản trị cung cấp thông tin phục vụ điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, trong khi kế toán tài chính cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập các báo cáo tài chính.
  2. Đối tượng phục vụ: Đối tượng sử dụng thông tin về kế toán quản trị là các nhà quản lý doanh nghiệp (Hội đồng quản trị, ban giám đốc), trong khi đối tượng sử dụng thông tin về kế toán tài chính là các nhà quản lý doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp (Nhà đầu tư, ngân hàng, cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê).
  3. Đặc điểm thông tin: Kế toán quản trị nhấn mạnh đến sự thích hợp và tính linh hoạt của số liệu, thông tin được tổng hợp phân tích theo nhiều góc độ khác nhau. Thông tin ít chú trọng đến sự chính xác mà mang tính chất phản ánh xu hướng biến động, có tính dự báo. Trong khi đó, kế toán tài chính phản ánh thông tin xảy ra trong quá khứ đòi hỏi có tính khách quan và có thể kiểm tra được. Thông tin chỉ được theo dõi dưới hình thái giá trị.
  4. Nguyên tắc cung cấp thông tin: Kế toán quản trị không có tính bắt buộc, các nhà quản lý được toàn quyền quyết định và điều chỉnh phù hợp với nhu cầu và khả năng quản lý của doanh nghiệp. Ngược lại, kế toán tài chính phải tôn trọng các nguyên tắc kế toán được thừa nhận và được sử dụng phổ biến, phải đảm bảo tính thống nhất theo các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán nhất định để mọi người có cách hiểu giống nhau về thông tin kế toán, đặc biệt là báo cáo tài chính và kế toán tài chính phải tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành.
  5. Phạm vi của thông tin: Phạm vi thông tin của kế toán quản trị liên quan đến việc quản lý trên từng bộ phận (phân xưởng, phòng ban) cho đến từng cá nhân có liên quan. Trong khi đó, phạm vi thông tin của kế toán tài chính liên quan đến việc quản lý tài chính trên quy mô toàn doanh nghiệp.
  6. Kỳ báo cáo: Kế toán quản trị có kỳ lập báo cáo nhiều hơn: Quý, năm, tháng, tuần, ngày. Kế toán tài chính có kỳ lập báo cáo là: Quý, năm.
  7. Quan hệ với các môn khoa học khác: Kế toán quản trị cần kết hợp và sử dụng nội dung của nhiều môn khoa học khác như: Kinh tế học, thống kê kinh tế, tổ chức quản lý doanh nghiệp, quản trị đầu tư để tổng hợp phân tích và xử lý thông tin. Trong khi đó, kế toán tài chính ít có mối quan hệ với các môn khoa học khác.
  8. Tính bắt buộc theo luật định: Kế toán quản trị không có tính bắt buộc. Ngược lại, kế toán tài chính có tính bắt buộc theo luật định.

Điểm giống nhau giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính

Cả hai hệ thống này đều dựa vào dữ liệu thu thập được từ hệ thống kế toán cơ bản của tổ chức. Hệ thống này bao gồm thủ tục, nhân sự, và hệ thông máy tính để thu thập và lưu trữ các dự liệu tài chính của tổ chức. Một phần của hệ thống kế toán chung này là hệ thống kế toán chi phí (cost accounting), có nhiệm vụ thu thập thông tin chi phí được sử dụng trong cả hệ thống kế toán quản trị và kế toán tài chính. Ví dụ, số liệu về giá thành sản phẩm được nhà quản lý sử dụng để định giá bán sản phẩm, đó là một mục đích sử dụng thông tin của kế toán quản trị. Tuy vậy, số liệu giá thành cũng được sử dụng để xác định giá trị hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán, đó lại là một mục đích sử dụng thông tin của kế toán tài chính.
Như vậy:

Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều là những phần quan trọng của hệ thống kế toán trong một tổ chức. Tuy nhiên, mục tiêu và người sử dụng thông tin của hai loại kế toán này có sự khác biệt rõ ràng.

Kế toán tài chính chủ yếu cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngoài tổ chức, bao gồm cổ đông, nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng, chủ nợ, các cơ quan nhà nước, các nhà phân tích đầu tư chứng khoán, khách hàng. Sản phẩm của kế toán tài chính là các báo cáo tài chính, phản ánh hiện trạng và sự biến động về vốn, tài sản của doanh nghiệp dưới dạng tổng quát.

Trái lại, kế toán quản trị cung cấp thông tin phục vụ cho nhà quản lý của chính tổ chức đó, như các giám đốc điều hành, giám đốc marketing, giám đốc tài chính, … Kế toán quản trị tạo ra các sản phẩm là báo cáo quản trị, các kế hoạch, chiến lược tài chính quản trị giúp nhà quản lý doanh nghiệp đưa ra các quyết định cho doanh nghiệp.
Nếu bạn chưa biết gì mới bắt đầu về kế toán muốn được đội ngũ chuyên gia đào tạo trong thời gian ngắn nhất có thể tìm hiểu tới khóa học kế toán thực hành thực chiến tại Công ty dịch vụ kế toán Minh Việt với hơn 12 năm kinh nghiệm trong nghề đào tạo bài bản từ 1 người chưa biết có thể tự tin đi làm công việc kế toán tại các doanh nghiệp tham khảo tại: Khóa học kế toán cho người chưa biết gì

Các bài viết liên quan

Gọi điện
tel
Chat Zalo
Chat Zalo

các khóa đào tạo kế toán

Dịch vụ kế toán

thành lập công ty

dịch vụ hoàn thuế

học kế toán thực hành